Bài của TRÁC THUÝ MIÊU
XUỐNG DỐC THÌ NHANH HƠN LÀ NGƯỢC LẠI
Một trong những gia tài quý báu
nhất mà tôi thừa hưởng của Ba, đó là nguyên tắc đi ngược chiều thời cuộc,
nguyên tắc đi từ cuộc đời của chính Ba.
Ba luôn tìm được cách đi chậm
lại, và ôm theo cả gia đình mình đi ngược chiều. Giữa thập niên đầu sau chiến
tranh, những tháng năm bao cấp khắc khổ, tôi được thừa hưởng sự thanh bình của
thành phố, nhưng không dây dính vào lốc xoáy “xây dựng quê hương mới” và cuộc
đại tẩy não trên ghế nhà trường. Gia đình tôi trở nên thủ cựu, tôi bị giáo viên
đóng nhãn tiểu tư sản vì biết chơi dương cầm, mặc váy và đọc ngụ ngôn tiếng
Anh, khi mà bạn bè tôi đang nỗ lực phấn đấu để được tuyển vào lớp Nga văn.
Như thể Ba nhìn thấy con dốc
xuôi mà cả dân tộc khi này còn đang hồn nhiên hô hào nhau lẫm chẫm từng bước
phong trào xuống vực. Ba níu chúng tôi đi chậm lại chừng nào hay chừng ấy, níu
dài con đường tự hoại nhỡn tiền. Rồi tôi lớn lên, làm kẻ đi ngược chiều thời
cuộc, luôn đau đáu tiến về một đỉnh cao đã bị cả miền Nam Viêt-nam bỏ
lại sau lưng ngày càng xa.
Người ta nói tôi
lập dị và luôn hướng về điều cổ lỗ.
Kẻ đi ngược chiều,
ắt không khỏi những va đập chát chúa với chính đồng bào đồng loại của mình đang
hồ hởi hưởng ứng xuôi chiều thời cuộc.
Xác suất bị xô ngã và đè bẹp là
không thể tránh khỏi.
Người ta rất nên bắt đầu bằng
cách tập “đi” chậm lại, thoát khỏi lực cuốn của vòng xoáy vong thân.
Lâu rồi, Ba nói: “Khi nào con
thấy thời cuộc dễ phất, đi càng nhanh càng dễ sống, gió phần phật bên tai hưng
phấn, hãy cẩn trọng, xuống dốc bao giờ cũng nhanh và dễ hơn. Phía trước là vực
sâu đó!”
Tôi học sống chậm từ khi còn
rất nhỏ. Tôi học cô lập mình ra khỏi đồng loại khi đang lớn lên. Và giờ đây,
tôi ngược chiều thuần thục.
Ngẩng lên, cái tôi nhìn thấy là
điều mà miền đất này đã từng biết đến, không hề là điều chi mới mẻ: đỉnh cao
hoàng kim của thẩm mỹ và văn minh. Tôi hướng về nơi đó, không như một tín đồ
vintage, con nghiện retro hoặc một tay chơi đồ cổ - tôi chỉ thuần túy hướng về
cái Đẹp.
Một người bạn xem tấm ảnh tôi
chụp, chỉ rằng tôi nên bỏ đi hình ảnh chiếc TV “đời sau” ở hậu cảnh bởi không
đủ “retro dose”, hay xóa bớt hình ảnh cái ổ điện trên tường nhà bởi “hồi xưa
làm gì có ổ điện kiểu đó”. Tôi bình thản để yên cái ổ điện nằm đó: tôi đang
không giả cổ. Đây là tôi, giữa thời cuộc này. Tôi giữ vững mình và mặc nhiên
thừa nhận thời cuộc. Tôi không phải anh hùng dân tộc và phần mềm Photoshop cũng
không.
Tẩy xóa một cái ổ điện? Giá như
tôi đã có thể tẩy xóa một cuộc chiến! Giá như tôi có thể phủ lập chiến cuộc của
dân tộc tôi trước khi tôi ra đời, một cuộc cách mạng văn hóa trá hình.
THANH LỌC KHI KHÔNG THỂ THANH
TRỪNG
Trên lối ngược
chiều, người ta nhận ra nhau.
Mỗi khi tôi định cho phép một
ai đó lại gần tôi hơn, tôi hạ cùi chỏ xuống và thu móng lại, và cuộc đón tiếp
của tôi biến thành một vụ va quẹt lớn. Hàng loạt đồng bào của kẻ lạ đó cũng
đùng đùng va ầm ầm vào tôi, đôi khi tối tăm mặt mũi, đôi khi tôi gục và có lần
bị đạp cho suýt bẹp ruột.
Chống tay đứng dậy bao lần là
từng ngần ấy phen bị đá phốc cho một cú knock out lộn mèo bonus, tím tái mặt
mày.
Điều này làm tôi nhớ một lần,
bức tượng Đức Mẹ vong thân gieo mình từ bàn tay tôi xuống sàn gạch, bể đôi sau
cú đá bồi của số phận. Tôi cáu tiết (tôi luôn rất mạnh khi phát cáu), đứng lên
ném trả vào cái thứ đồng bào dị hợm của mình tất thảy những gì đã từng được ném
về phía tôi, chính xác từng đòn một.
Tôi chỉ hãnh diện mình chưa bao
giờ vì đau đớn mà buông xuôi, thả mình lăn theo dòng lũ chung xuôi chiều xã hội
tanh mùi người sống.
Từ ngày đó, thêm người bạn đồng
hành, chúng tôi không “đi đến”, mà cảm giác rõ rệt là “tìm về”. Cứ hướng về
phía lời gọi chân mây, ngược chiều Lê Uyên Phương mà đi, càng đi xa khỏi đồi,
họ càng xuống thấp. Nay tôi tầm tã ngược chiều tìm về lại nơi đồi cao tránh
lấm. Than ôi, Đô thành thất thủ đã lâu!
Dòng người ngày càng đông, lực
hấp dẫn của triền dốc càng mãnh liệt bởi lực xô đẩy. Tôi kết thành cái bè nhỏ
của mình, chiếc bè Noah, cột chặt mọi điều trân quý nhất vào đó và càng quyết
liệt hơn với cuộc viễn chinh ngược dòng ngược dốc của riêng mình.
Đó là khi tôi nhận diện những
kẻ, cũng như tôi, hướng về phía ngược lại tốc độ thời cuộc.
Tôi lập nên một đại lễ nhận
diện nho nhỏ ngay trong hôn lễ của mình, tôi tìm ra họ trên mỗi đường tiếp cận.
Hấp lực tự tạo càng lớn, người ta càng dễ nhận ra nhau. Như những đốm hỏa châu
kêu cứu, họ tự thân phát sáng và tìm thấy nhau như vậy.
Tôi nhận ra mình không phải là
kẻ ngược chiều duy nhất.
Có những nét thuộc tính không
chỉ là tiểu tiết hình thức. Thuộc tính ấy được nhận ra chỉ từ một tấm ảnh, một
bản nhạc, một kiểu tóc hàng ria, một chiếc áo choàng cho con cún lem luốc vô
gia cư, hay thậm chí chỉ từ lối trân trọng một kiểu cách rất riêng khi trang
trí một cành thông mùa lễ. Họ có thể không là người Công-giáo, nhưng tôn thờ
những cành thông, họ có thể nói tiếng Mỹ coi phim Viễn Tây, nhưng biết phát âm
chuẩn Pháp. Không dễ gì đánh lừa tôi bằng một cá thể văn công nhôm nhựa học đòi
đánh vần tiệc bán dạ reveillon bằng âm sắc Tonkin.
Sài-gòn muôn đời là quê chung
của dân tứ xứ, chẳng phải đến bây giờ, cũng không phải chỉ từ cuộc đại di cư
rùng rùng năm 54, hay từ tám hướng đường Đông Tây Nam bộ, từ Chà và, Phú lang
sa cho đến cả quận 5 Chợ Lớn cũng đủ để nói lên cái thuộc tính đa chủng của cái
gọi là “dân Sài-gòn”. Nhưng được gọi là dân Sài-gòn, đó ắt đã phải là người đến
với vùng đất, mà không phủ nhận và tận diệt thuộc tính của đất và người sẵn có.
Nên một cơ số dân mới, tôi
không thể gọi họ là dân Sài-gòn.
Bọn này cũng dễ nhận diện.
Những kẻ nhập cư ồn ào vỗ ngực
là dân Sài-gòn, với giọng trọ trẹ Quảng Ngãi pha Thanh Hóa, nhưng cứ đến Tết
lại khoác vào nỗi buồn hợp thời, đấm ngực than vãn "Saigon không có
Tết!", so bì cái lạnh, so cả hoa đào với bông mai... dẫu quanh năm vẫn
thỏa thuê bú mút rút ruột mảnh đất phương Nam dư dật. Những vị tân nhân dân tội
nghiệp ấy, có thể ngồi giữa Paris và vẫn man di mọi rợ tài tình như vốc muối
hòn đá quê nhà, nơi từ đó, họ cào cấu để ra đi.
Khôi hài hơn nữa là những câu
chuyện từ lớp thanh niên Nam tiến hậu chiến, khi họ thất vọng ngỡ ngàng: “hóa
ra Sài-gòn phồn hoa là đây, có khác gì Hà-nội đâu!” mà không nhận ra chính
những đợt người vô tâm từ phương Bắc đã vặn vẹo méo mó một thuộc tính Sài-gòn.
Bài học của xã hội đã nhỡn
tiền: bởi tạp nên mới xú.
Tôi không gọi họ là dân
Sài-gòn. Tôi gọi họ là giặc và đồng bọn ăn hôi thời cuộc.
Tôi lại vòng tay trước ngực.
Miễn đừng có chạm vào thân tôi là được, thưa quý vị tân nhân dân.
ĐÊM HỖN MANG, THẮP
HỎA CHÂU ĐI TÌM BỘ LẠC
Mỗi ngày, tôi
phóng vào xã hội một chia sẻ riêng tư, như thảy một đốm hỏa châu vào đêm hỗn
mang, và tôi ngồi yên, lắng nghe những hồi âm từ bộ lạc thất tán.
Cứ mỗi lần như thế, tôi thu
mình vểnh tai ngồi nghe những tiếng phản âm vọng lại.
Vẫn có những người của thế hệ
sau biết trầm trồ trước cái đẹp, nhưng bất lực và dồn năng lượng vào sự so sánh
chuệch choạc của thời cuộc đương trào với những giá trị quá vãng. Hay phẫn nộ
cực đoan mà buông tay vô vọng với cái Đẹp hiển nhiên.
Những đường phố có thể ô tạp,
những tiệm café huyền thoại có thể bị tái dựng thô bỉ và ngu độn, những hình
nhân thả rông ngoài phố có thể méo mó dị hợm, nhưng tôi tin vào những đốm hỏa
châu tôi nhìn thấy.
Tôi không chọn bề nổi chánh trị
để hướng năng lượng của mình vào đó. Theo tôi, bản chất của chánh trị đã là xấu
xí, thô lậu và mất vệ sinh, nên tôi đặt điều quan tâm này ngoài lãnh vực quan
tâm của mình, thời nào cũng vậy.
Năng lượng đó, bạn bè tôi ơi,
tại sao không tự gom tém cho mình một lối sống, một tư phong cốt cách riêng.
Xa xỉ đâu nằm ở mức giá món đồ
bình dân bị độn giá bởi thuế má. Xa xỉ chưa bao giờ là phi lý.
Xa xỉ chính là cái cung cách
mỗi người tự quây quanh đời sống cá nhân của mình những gì ưng ý, vượt trên tầm
chức năng. Xa xỉ nằm ở sự cầu kì kiểu cách trong từng tiểu tiết, nằm trong sự
khắc nghiệt không khoan nhượng đối với từng dị vật lọt vào làm uế tạp không
gian riêng. Xa xỉ thuộc về những kẻ thà nghiến răng chịu đựng đớn đau và cô
độc, chỉ để bản thân không được phép để bị cuốn xuôi chiều. Xa xỉ là áp lực, nó
mệt mỏi, kiểu cách, khắc khổ và cầu kỳ, và nó có thể nằm trong một bộ sưu tập
những bức ảnh đen trắng của những người đã ra thiên cổ, được tìm trong một sạp
chạp phô với giá 12 ngàn đồng một tấm, được đem về trang trọng lộng khung trưng
giữ.
Xa xỉ nằm trong mỗi 10 phút tự
nhắc mình ngồi thẳng sống lưng.
Xa xỉ nằm trong việc tự nhắc
mình bơm mực cho cây bút cũ mà tự tay viết chữ mỗi tháng một lần.
Chậm chạp, từng tiểu tiết trong
cuộc sống hằng nhựt là một điển lễ chuẩn chu, coi đời như đạo – Đạo Sống.
Thật chậm, điểm trang, thụ
hưởng và tụng ca.
Cái hào hoa lộng lẫy cũ đó, vẫn
hàng ngày bị tụng ca tiếc nuối bằng những cô cậu thanh niên đang hời hợt với
chính bộ trang phục kì quặc bận trên người, tân cổ bất phân.
Thay vì ca tụng, tiếc nuối và
căm phẫn vô tri phi nghĩa, sao không bắt đầu bằng việc chọn lấy một chiếc áo
dài, một chiếc áo sơ-mi đàn ông, hay một cặp quần tây khéo cắt, và ủi cho thiệt
phẳng?
Tôi tin tuyệt đối vào sự cầu kỳ
đúng điệu của hình thức. Tôi tin rằng chiếc áo làm nên thầy tu, và phong cách
có thể là liệu pháp ám thị làm nên cốt cách. Thế mới biết vì sao các bà giám
thị xưa lại ngặt nghèo và nguyên tắc vận áo dài của nữ sinh như vậy. Những
người con gái lớn lên trong khuôn khổ ôm ấp của tấm áo chuẩn mực, ắt sẽ không
thể tự cho phép sống lưng gù bệ rạc, bước chân lê quẹt bần hàn, hay cần cổ co
rụt thõng thẹo tinh thần tiểu nhược. Vào một thời điểm cụ thể nào đó trong quá
khứ, con người lớn lên như thế, ướp trong bầu không khí văn hóa như vậy, từ âm
nhạc đến kịch nghệ, văn chương, từ kiến trúc, kiểu dáng công nghiệp (xe, điện
thoại, máy truyền hình, v.v…), và cả xự thiêng liêng trong chính biến thời
cuộc, khiến sự chỉn chu cẩn trọng trong đạo hưởng thụ phải là tuyệt đối.
Kẻ hậu duệ kém may mắn như
chúng ta, lỡ chuyến thời cuộc hoàng hoa lộng lẫy và cũng bi thương đó, vẫn có
thể từng ngày, từng người, tự dựng nên riêng cho mình một “bầu khí quyển” xa xỉ
của những gì mình luôn ngưỡng vọng, cũng đủ tạo dựng lại cho Sài-gòn một thế hệ
kiêu hãnh của cốt cách Sài-gòn chánh hiệu.
Tại sao không bắt đầu bằng vài
chục ngàn mua một cái làn đi chợ (trước khi tuyệt chủng) để không bị bắt gặp
xách thứ bịch nylon bệ rạc?
Người ta có thể nhận nuôi một
con mèo, yêu thương nó, và nhờ nó dạy cho cách loài mèo, mèo giàu hay mèo
nghèo, chậm rãi, khoan thai, khách khí, và luôn biết thu xếp cho bản thân một
lối sống cầu kì ra sao.
Người ta có thể nhận nuôi một
con chó, yêu thương nó, và nhờ nó nhắc cho nhớ: mình xứng đáng được yêu thương
tuyệt đối và vô điều kiện như thế nào.
Biết sững sờ trước một khuôn
vàng thước ngọc của tư phong cốt cách, hãy ra tiệm may đặt may riêng cho mình
một bộ da thứ hai tươm tất hơn, và đừng bao giờ, đừng bao giờ cho phép mình ăn
mặc xấu nữa.
Bằng không, xin chỉ từng ngày,
từng người, thu vén cho riêng mình một cuộc ngược dòng chậm rãi riêng.
Điều đó có thể bắt đầu bằng
việc ngồi lại, quậy một ly café sữa đúng điệu vừa ngậy cùng đá nhuyễn, và chậm
rãi học lại từ đầu, cách thưởng thức một bản tân cổ giao duyên được thâu âm
thiệt cầu kỳ vi diệu.
Hay nói một cách khác, hãy bắt
đầu bằng việc từ chối bị ngược đãi và tự ngược đãi.
Hãy đối xử và cung
cấp cho chính mình những điều tốt đẹp hơn.
Và thêm vào cho
tôi những đốm hỏa châu hồi sanh bộ lạc.
TRÁC THUÝ
MIÊU
